Tết trong cung đình Huế xưa

Tết trong hoàng cung Huế gồm 2 phần: Tết của triều đình lo cho thần dân trăm họ và nghi lễ Tết của hoàng gia trong Tử Cấm Thành. Trong hoàng cung triều Nguyễn có một điện thờ và 4 miếu thờ: Điện Phụng Tiên (nơi các bà hoàng thờ các vua), Triệu Miếu (thờ chúa Nguyễn Kim, gọi là Tổ), Thái Miếu (thờ các chúa Nguyễn), Hưng Miếu (thờ thân sinh vua Gia Long) và Thế Miếu (thờ các vua Nguyễn).

Tại các điện và miếu này, ngày Tết, lễ cúng diễn ra liên tục từ ngày 30 đến mùng 3. Đồ cúng có 25 – 30 món ăn (các món giống món nấu cho các buổi yến tiệc cung đình) và các loại bánh in ngũ sắc, trái cây. Món ăn và bánh đa phần giống như đồ cúng tổ tiên ngày Tết của các nhà giàu ở Huế bây giờ.

Tối ba mươi Tết, tất cả tam cung, lục viện trong Tử Cấm Thành đều tắt hết bếp, đèn nến, chỉ có bếp lửa ở điện Càn Thành (nơi vua ở) là đỏ. Sáng mùng một Tết, các vương phi, theo thứ bậc, ôm lồng ấp (lò sưởi) theo thứ tự đến điện Càn Thành xin vua ban lửa đầu năm.

Ngày được coi là Tết của hoàng cung bắt đầu từ mùng một tháng Chạp (năm cũ). Đầu tiên là lễ ban sóc (phân phát lịch) ở Ngọ Môn. Triều đình phát lịch năm mới cho các quan. Lịch gồm các loại như long lịch, loan lịch, phượng lịch (đặt theo tên gọi của rồng và chim).

Lễ tế Đàn Nam Giao

Lễ tế Đàn Nam Giao

Các quan lĩnh lịch về quê phát cho thần dân. Sau lễ ban sóc là lễ tiến xuân vào tiết lập xuân. Lễ này còn gọi là lễ rước trâu (con trâu bằng đất) với mục đích hô hào trọng nông, khuyến nông.

Không khí Tết Nguyên Đán đến thực sự khi cả hoàng cung được trang trí đèn lồng, cờ hoa.

Tết triều đình tổ chức cho thần dân rất trọng thể, linh đình và kéo dài trong 7 ngày. Đầu tiên là lễ phất thức, tức lễ rửa ấn ngọc, kiếm vàng, kim sách, đồ cổ… tổ chức vào trước ngày tiễn ông Táo về chầu trời (23 tháng Chạp).

Nước phất thức là nước hoa quý, rửa xong lại bỏ vào hòm, khóa lại. Tối 30 Tết, vào giờ tốt, kinh thành lên nêu, đốt pháo. Súng thần công trước Ngọ Môn nổ chín phát báo hiệu năm mới.

Mùng một Tết, trống ở điện Thái Hòa đánh từ canh năm. Lá cờ rồng cỡ lớn và nhiều loại cờ khánh, hỉ với nhiều màu sắc cắm rợp sân Đại Triều, Ngọ Môn, Kỳ Đài. Khi viên quan ở Khâm Thiên báo giờ tốt, vua mặc hoàng bào, đội mũ cửu long, tay cầm hốt Trấn khuê rời điện Càn Thành và được kiệu vào điện Thái Hòa. Lễ khánh hạ (mừng tuổi vua) bắt đầu.

Từ Ngọ Môn, chiêng trống gióng lên chào vua. Chín phát súng thần công vang rền. Vua lên ngự ngai vàng. Các quan văn võ lễ phục đại triều quỳ xuống trước sân chầu, lạy 5 lạy. Thượng thư thay mặt các quan đọc chỉ dụ năm mới của vua, rất ngắn, đại ý: “Đời bình trị, gặp ngày xuân vui, ta với các khanh cùng hưởng. Sẽ ban yến cho các thứ bậc”.

Sau đó vua lên kiệu về lại điện Cần Chánh. Lúc này các quan thái giám, bộ lễ đưa các hoàng đệ, hoàng tử nhỏ tuổi đến mừng vua 5 lạy. Sau đó vua ban yến tiệc đầu năm cho các hoàng tử, hoàng thân và các quan từ ngũ phẩm (quan văn), tứ phẩm (quan võ) trở lên tại điện Cần Chánh hoặc nhà Tả Vu, Hữu Vu.

Ngày mùng hai Tết, vua lại ban yến tiệc tiếp cho các quan từ ngũ phẩm trở xuống, quan trấn, quan tổng. Sau yến tiệc, vua thưởng tiền bạc cho các hoàng tử mỗi người 20 lạng bạc. Các hoàng thân, các quan, tùy theo chức tước được thưởng từ 1 – 12 lạng bạc, rồi cùng nhau đi xem hát bội ở nhà hát Duyệt Thị Đường.

Dưới thời vua Khải Định, đại yến còn được tổ chức tại cung An Định bên sông An Cựu, cung riêng của nhà vua thời còn là hoàng tử. Tuy là đại yến vua ban mừng năm mới, nhưng từ thời vua Gia Long đến thời Tự Đức, vua thường không ăn chung trong buổi tiệc. Chỉ đến thời vua Đồng Khánh trở đi, vua mới có mặt trong các đại tiệc Nguyên Đán để tiếp sứ thần ngoại quốc.

Thực đơn trong mâm cỗ đại yến hạng nhất, theo học giả Tôn Thất Bình, gồm: thức ăn 27 món, bánh 15 loại, mứt 12 loại, trái cây 23 loại, xôi 2, chè một loại. Yến tiệc mừng Tết trong cung Nguyễn tuy tổ chức rất linh đình, nhưng thường chỉ kéo dài một buổi.

Những ngày Tết trong cung Nguyễn (hay các phủ, dinh thự các ông hoàng, bà chúa), sau yến tiệc là trò chơi vừa để giải trí vừa để thử tài lộc đầu Xuân, như trò chơi đầu hồ, họa ngự thi, đánh thơ, đánh cờ người…

Chơi đầu hồ là ném thẻ vào miệng hẹp của một cái bầu. Người ta ném chiếc thẻ bằng gỗ chuốt mỏng (12 chiếc thẻ tượng trưng 12 tháng) vào một miếng giỗ nhỏ đặt cạnh cái bầu không đáy (gọi là bình đầu hồ). Thẻ trúng miếng gỗ và nẩy lên, rơi vào miệng hồ. Ai có nhiều thẻ rơi vào miệng hồ là thắng trận.

Họa ngự thi là vua chọn 4 ông quan văn, gần giao thừa giao cho mỗi ông một bài thơ của vua, để quan làm thơ họa ngay trên giấy hoa tiên ngay bên hương án vua ngồi. Sau đó cận thần đọc to từng bài thơ lên cho văn võ bá quan nghe, rồi vua phán bài thơ nào hay, người đó được thưởng.

Đánh thơ là người ta chọn những câu thơ để đánh sau đó bớt đi một vài chữ, ghi vào thẻ, người đánh bắt được thẻ nào thì điền các chữ thiếu vào sao cho đúng. Ai đúng được nhiều câu thơ thì được thưởng. Sau ngày mùng 3 Tết, triều đình tổ chức lễ tịch điền, tức lễ vua cày ruộng đầu năm mới mở đầu cho một năm làm ăn của thần dân trăm họ.

webdulichhue-nha-nhac-cung-dinh-hue

Nhã Nhạc Cung Đình trong Duyệt Thị Đường

Lễ tịch điền được tổ chức ở khu ruộng tịch điền, tức khu ruộng của triều đình, cách Thành Nội khoảng 500 mét, ở phía Tây Bắc, thuộc phường Tây Lộc hiện nay.

Vào lễ tịch điền, vua mặc áo chẽn, đầu bịt khăn đường cân, mang hia, tay cầm roi, tay cầm chiếc cày do hai con bò phủ lụa vàng kéo. Vua cày 3 đường cày mở đầu năm sản xuất, sau đó đến các quan, các hoàng tử… thay nhau cày mỗi người 3 đường cày, để cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt.

Trong lễ tịch điền Tết năm Minh Mạng thứ 9 (1829), sau khi cày 3 đường cày, vua Minh Mạng xúc động nhận ra rằng: “Làm ruộng là nghề nhọc nhằn hơn các nghề khác…”. Nên bắt đầu từ năm Minh Mạng thứ 10 (tức năm sau), giảm 3 phần 10 thuế lúa má.

Vua tâm sự: “Nước lấy dân làm gốc, dân lấy cái ăn làm trời. Tuy có cảnh tình mây lành, chung phụng kỳ tập, kỳ lân ra đời, chẳng bằng được mùa là điềm lành trên hết!”. Ngoài các lễ nghi và trò chơi trên, trong 7 ngày Tết, trong hoàng cung còn tổ chức các lễ rước thần nông; lễ vua, hoàng hậu du xuân trên sông Hương. Vua đi thuyền rồng, hoàng hậu đi thuyền phụng; vua vi hành chúc Tết thần dân ở kinh đô. Cuộc lễ lớn để kết thúc Tết là lễ kỳ đạo (lễ tế cờ), thường tổ chức sau ngày 11 Tết.

Đàn tế dựng ở đông nam kinh thành. Giữa đàn cắm kỳ đạo (cờ đầu) bằng nỉ vàng, thêu hình long vân. Nửa đêm thì lễ tế bắt đầu, đến sáng hôm sau mới xong. Khi tế có bắn đại bác. Nhà vua thân chinh đến dự lễ và duyệt trận. Lễ tế cờ như là cuộc biểu dương sức mạnh của triều đình đầu năm mới. Xong các lễ Tết Nguyên Đán, triều đình lại lo chuẩn bị mấy tháng trời để tổ chức lễ tế đàn Nam Giao và trồng cây ngày xuân vào tháng 2 âm lịch. Lễ tế Nam Giao đã được trình diễn lại rất hoành tráng tại Festival Huế 2006 vừa qua.

NGÔ MINH KHÔI

Loading Facebook Comments ...
Scroll To Top